Qua hơn một năm triển khai thực hiện, công tác phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn xã Hòa Trí đã từng bước đi vào nền nếp, trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương. Thực tiễn cho thấy, chuyển đổi số không đơn thuần là trang bị máy tính, sử dụng phần mềm hay thực hiện các thủ tục trên môi trường mạng, mà cốt lõi là thay đổi phương thức làm việc, nâng cao năng lực thực thi công vụ và tạo ra những giá trị thiết thực cho người dân, doanh nghiệp.
Trong quá trình đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức giữ vai trò nòng cốt, quyết định chất lượng tổ chức thực hiện; Nhân dân vừa là chủ thể tham gia, vừa là đối tượng trực tiếp thụ hưởng những tiện ích mà chuyển đổi số mang lại. Nếu cán bộ chưa thành thạo kỹ năng số, quy trình xử lý công việc còn phụ thuộc vào phương thức truyền thống thì việc triển khai các nền tảng số khó phát huy hết hiệu quả. Ngược lại, khi cán bộ sử dụng công nghệ thành thạo, hướng dẫn tận tình và giải quyết công việc thuận tiện, người dân sẽ từng bước hình thành thói quen sử dụng dịch vụ số, góp phần nâng cao chất lượng quản trị và phục vụ tại địa phương.
Đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, xã đã quan tâm tổ chức tiếp cận, đào tạo, tập huấn về ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) và bộ công cụ đo lường, đánh giá hiệu quả công việc (KPI). Đến nay, 100% cán bộ, công chức được trang bị máy vi tính làm việc, kết nối mạng nội bộ và Internet; 100% sử dụng Hệ thống quản lý văn bản điều hành; 100% văn bản do Đảng ủy, UBND xã ban hành được ký số và xử lý trên môi trường mạng. Cán bộ, công chức cũng đã được trang bị tài khoản định danh điện tử VNeID mức độ 2 và tài khoản thanh toán trực tuyến.
Những kết quả này cho thấy xã Hòa Trí đã hình thành được những điều kiện nền tảng để chuyển đổi phương thức làm việc từ hồ sơ giấy sang môi trường điện tử. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng, việc được trang bị thiết bị, có tài khoản và sử dụng phần mềm mới là điều kiện ban đầu; hiệu quả chuyển đổi số phải được đánh giá bằng khả năng khai thác các công cụ đó để rút ngắn thời gian xử lý công việc, nâng cao chất lượng tham mưu, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và hạn chế những khâu trung gian không cần thiết.
Đối với bộ phận tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính, xã đã bố trí hạ tầng, trang thiết bị đầu cuối, kết nối mạng và phân công lãnh đạo, nhân sự cơ bản đáp ứng yêu cầu công việc thực tế. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Trong thời gian tới, cần tiếp tục gắn việc ứng dụng công nghệ với rà soát quy trình giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm người dân được hướng dẫn rõ ràng, hồ sơ được xử lý đúng quy định, hạn chế việc phải bổ sung nhiều lần hoặc đi lại không cần thiết.
Trong lĩnh vực giáo dục, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên tại các trường học đã từng bước ứng dụng AI trong hoạt động dạy học, xây dựng học liệu số và triển khai các nền tảng phục vụ quản lý, kiểm tra, đánh giá. Giáo viên các tổ chuyên môn đã xây dựng, cập nhật và sử dụng bài giảng điện tử, bài tập trực tuyến, video bài giảng và ngân hàng câu hỏi. Việc ứng dụng công nghệ bước đầu góp phần đổi mới phương pháp dạy học, mở rộng khả năng tiếp cận học liệu và hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục. Điều cần quan tâm tiếp theo là bảo đảm giáo viên có đủ kỹ năng lựa chọn, kiểm chứng và sử dụng công nghệ phù hợp với mục tiêu giáo dục, tránh tình trạng ứng dụng hình thức hoặc phụ thuộc vào công cụ mà chưa phát huy được vai trò chủ động của người dạy và người học.
Đối với người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp, chuyển đổi số đã từng bước hiện diện trong đời sống, sản xuất và kinh doanh. Theo số liệu thống kê của xã, có 85% hộ dân có điện thoại thông minh và kết nối Internet; 70% người dân trưởng thành sử dụng được dịch vụ công trực tuyến và tham gia các nhóm tư vấn y tế, nông nghiệp, phúc lợi xã hội trên nền tảng số cộng đồng; 60% học sinh các cấp được tiếp cận học trực tuyến, sử dụng ứng dụng học tập số. Có 70% hộ kinh doanh, công ty, doanh nghiệp sử dụng mạng xã hội và sàn thương mại điện tử để quảng bá, tiêu thụ sản phẩm, sử dụng hóa đơn điện tử; trên 65% hộ dân sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt và trên 80% hộ kinh doanh có mã QR phục vụ thanh toán.
Những con số trên phản ánh mức độ tiếp cận công nghệ ngày càng được mở rộng, đồng thời cho thấy chuyển đổi số đã bước đầu gắn với các nhu cầu thiết thực của người dân. Tuy nhiên, có điện thoại thông minh hoặc kết nối Internet không đồng nghĩa với việc sử dụng công nghệ thành thạo. Một người dân có thể sử dụng mạng xã hội hằng ngày nhưng vẫn lúng túng khi nộp hồ sơ trực tuyến, tra cứu kết quả giải quyết thủ tục hành chính hoặc thực hiện thanh toán số an toàn. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là mở rộng khả năng tiếp cận, mà phải nâng cao năng lực sử dụng thực tế, giúp người dân tự thực hiện được những giao dịch số phổ biến, biết bảo vệ thông tin cá nhân và chủ động khai thác các tiện ích phục vụ cuộc sống.
Để đưa công nghệ đến gần hơn với cộng đồng, 100% thôn trên địa bàn xã đã thành lập Tổ công nghệ số cộng đồng; xã đã tổ chức 8 buổi ra quân hướng dẫn người dân đăng ký thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công, sử dụng VNeID, tiếp cận các nền tảng số, thực hiện khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân hoặc qua ứng dụng định danh điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt và ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh. Cùng với đó, các lực lượng hỗ trợ chuyển đổi số và dịch vụ công trực tuyến đã được thành lập, góp phần đưa hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ đến gần hơn với người dân.
Đây là cách làm phù hợp với điều kiện thực tế ở cơ sở, bởi năng lực số không thể hình thành chỉ thông qua các hội nghị tuyên truyền mà cần được bồi dưỡng bằng thực hành và hỗ trợ thường xuyên. Việc trực tiếp hướng dẫn người dân thao tác trên thiết bị của mình, giải quyết một nhu cầu cụ thể và hướng dẫn cách xử lý khi gặp khó khăn sẽ mang lại hiệu quả thiết thực hơn so với việc chỉ phổ biến kiến thức chung.

Những hạn chế và vấn đề cần tập trung giải quyết
Bên cạnh những kết quả đạt được, chuyển đổi số và năng lực số trên địa bàn xã Hòa Trí vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện, còn những khó khăn cần được nhận diện đúng để có giải pháp phù hợp.
Trước hết, nguồn nhân lực chuyên môn tham mưu về chuyển đổi số còn thiếu, trong khi nhiệm vụ ngày càng đa dạng, đòi hỏi phải có kiến thức về công nghệ, dữ liệu, an toàn thông tin và khả năng phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị. Nếu không có đầu mối đủ năng lực tham mưu, theo dõi và hướng dẫn thực hiện, các nhiệm vụ dễ phân tán, thiếu liên kết, khó đánh giá đầy đủ kết quả và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Thứ hai, hạ tầng công nghệ thông tin và các hệ thống phần mềm chưa thật sự đồng bộ. Khi thiết bị, đường truyền và nền tảng chưa đáp ứng tốt yêu cầu, cán bộ có thể gặp khó khăn trong xử lý công việc; người dân cũng dễ nản lòng khi thực hiện dịch vụ trực tuyến nhưng gặp lỗi, thao tác phức tạp hoặc chưa được hướng dẫn kịp thời. Vì vậy, đầu tư công nghệ cần đi đôi với rà soát nhu cầu thực tế, bảo đảm khả năng kết nối, khai thác và duy trì hoạt động ổn định.
Thứ ba, năng lực tiếp cận và sử dụng công nghệ giữa các nhóm dân cư còn có sự khác biệt. Một bộ phận người dân chưa tự tin khi sử dụng dịch vụ số, còn tâm lý ngại thao tác, lo ngại sai sót hoặc chưa nhận diện đầy đủ các nguy cơ lừa đảo trên môi trường mạng. Nếu không có hình thức hỗ trợ phù hợp, những người cần được hỗ trợ nhiều nhất có thể lại là nhóm ít được hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi số.
Từ những vấn đề trên có thể thấy, thách thức của xã Hòa Trí trong giai đoạn tiếp theo không chỉ nằm ở việc bổ sung trang thiết bị hay tổ chức thêm các lớp tập huấn, mà là làm thế nào để năng lực số trở thành kỹ năng thường xuyên trong công việc của cán bộ, công chức, viên chức và trong đời sống của Nhân dân. Muốn vậy, cần chuyển từ cách làm đồng loạt sang hỗ trợ theo nhu cầu; từ đánh giá số lượng hoạt động sang đánh giá kết quả sử dụng; từ triển khai phần mềm riêng lẻ sang tăng cường phối hợp, khai thác dữ liệu và cải tiến quy trình thực hiện nhiệm vụ.
Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
Để nâng cao năng lực số một cách thực chất, hiệu quả và bền vững, xã Hòa Trí cần tập trung thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ sau:
Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và trách nhiệm tổ chức thực hiện của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
Tiếp tục rà soát, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện kịp thời các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 57-NQ/TW và Kế hoạch số 02-KH/ĐU ngày 15/8/2025 của Ban Thường vụ Đảng ủy. Việc triển khai phải gắn với nhiệm vụ chính trị, điều kiện thực tế và trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, đơn vị; xác định rõ nội dung công việc, tiến độ, kết quả cần đạt và đầu mối chịu trách nhiệm.
Người đứng đầu cần trực tiếp quan tâm, kiểm tra việc ứng dụng công nghệ trong xử lý công việc, kịp thời tháo gỡ khó khăn và khắc phục tình trạng có phần mềm nhưng chưa khai thác hiệu quả. Kết quả chuyển đổi số cần được xem xét gắn với chất lượng thực thi nhiệm vụ, kỷ luật hành chính và hiệu quả phục vụ người dân, không chỉ dừng ở việc hoàn thành các chỉ tiêu mang tính hình thức.
Hai là, củng cố hạ tầng số gắn với yêu cầu sử dụng thực tế, bảo đảm đầu tư đúng nhu cầu và tránh lãng phí.
Rà soát toàn diện hiện trạng thiết bị, đường truyền và nhu cầu sử dụng tại các cơ quan, đơn vị, trường học và các thôn; trên cơ sở đó đề xuất mua sắm, nâng cấp phù hợp với yêu cầu công việc. Đối với máy tính còn khả năng sử dụng, nghiên cứu điều chuyển cho các thôn để phục vụ hoạt động chuyển đổi số, bảo đảm khai thác hiệu quả tài sản hiện có.
Tiếp tục nâng cấp hạ tầng mạng, phấn đấu bảo đảm kết nối Internet đến 100% các thôn. Cùng với đầu tư thiết bị, cần quan tâm đến công tác quản lý, bảo trì, hỗ trợ kỹ thuật và bảo đảm an toàn thông tin, bởi thiết bị chỉ phát huy giá trị khi được sử dụng ổn định, đúng mục đích và có người chịu trách nhiệm quản lý.
Ba là, nâng cao năng lực số cho cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ.
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần xuất phát từ những công việc cán bộ phải thực hiện hằng ngày, tập trung vào kỹ năng xử lý văn bản điện tử, ký số, quản lý hồ sơ trên môi trường mạng, khai thác dữ liệu, sử dụng dịch vụ công, bảo vệ thông tin và ứng dụng AI đúng mục đích. Đối với từng nhóm công việc, cần xác định rõ kỹ năng cần đạt, tổ chức hướng dẫn thực hành và kiểm tra khả năng vận dụng sau tập huấn.
Đặc biệt, cần khuyến khích cán bộ, công chức chủ động đề xuất những cách làm mới, những giải pháp ứng dụng công nghệ giúp giảm thao tác thủ công, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao chất lượng tham mưu. Việc ứng dụng AI phải gắn với yêu cầu kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm của người sử dụng; công nghệ là công cụ hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm chuyên môn và quyết định của cán bộ.
Bốn là, đẩy mạnh chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao hiệu quả khai thác các nền tảng số.
Tập trung xây dựng, hoàn thiện dữ liệu số theo nhiệm vụ và tiến độ được giao trong Chiến dịch 90 ngày làm sạch, làm giàu, chuẩn hóa dữ liệu của 12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành y tế; đẩy nhanh thực hiện các chỉ tiêu của Đề án 06, hướng dẫn đăng ký kinh doanh và liên kết dữ liệu hộ gia đình. Tiếp tục nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến theo lộ trình, yêu cầu được giao; đẩy mạnh ứng dụng các nền tảng số trong công tác Đảng và khai thác hiệu quả Sổ tay đảng viên điện tử.
Trong quá trình thực hiện, cần coi dữ liệu chính xác, đầy đủ, được cập nhật và sử dụng đúng thẩm quyền là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý. Việc chuẩn hóa dữ liệu phải gắn với phân công trách nhiệm cập nhật, kiểm tra và khai thác, hạn chế tình trạng dữ liệu thiếu thống nhất hoặc phải nhập lại nhiều lần. Đồng thời, chú trọng bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản lý tài khoản và phân quyền truy cập theo quy định.
Năm là, đổi mới phương thức hỗ trợ người dân, lấy khả năng sử dụng dịch vụ số thực tế làm thước đo kết quả.
Tiếp tục tổ chức tập huấn kỹ năng số cho Nhân dân, phấn đấu đạt chỉ tiêu 85% người dân sử dụng thành thạo dịch vụ số. Duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ công nghệ số cộng đồng theo phương châm “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, chú trọng hướng dẫn trực tiếp những người còn hạn chế về kỹ năng sử dụng công nghệ.
Nội dung hướng dẫn cần thiết thực, dễ hiểu, gắn với nhu cầu thường ngày như nộp hồ sơ trực tuyến, sử dụng VNeID, tra cứu thông tin, thanh toán không dùng tiền mặt, tiếp cận thông tin y tế và giáo dục, quảng bá sản phẩm, kinh doanh trên nền tảng số. Cần quan tâm hỗ trợ người cao tuổi, người ít có điều kiện tiếp cận công nghệ và những trường hợp còn lúng túng khi thực hiện giao dịch trực tuyến.
Đối với người dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, cần từng bước hướng dẫn ứng dụng công nghệ để tiếp cận thông tin thị trường, quảng bá sản phẩm và mở rộng kênh tiêu thụ. Đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp, chú trọng kỹ năng sử dụng thanh toán số, hóa đơn điện tử và thương mại điện tử. Việc hỗ trợ phải hướng đến kết quả cụ thể: người dân có thể tự thực hiện thao tác, biết cách kiểm tra kết quả và chủ động tìm kiếm hỗ trợ khi phát sinh vướng mắc.
Cùng với đó, phấn đấu 100% hộ gia đình tham gia mạng lưới kết nối thông tin số theo mục tiêu đề ra, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin chính thống và tăng cường tương tác giữa chính quyền với người dân.
Sáu là, tăng cường kiểm tra, đánh giá và nhân rộng những cách làm hiệu quả.
Thường xuyên theo dõi tiến độ, kiểm tra kết quả thực hiện các nhiệm vụ chuyển đổi số; kịp thời phát hiện những khó khăn về nhân lực, hạ tầng, kỹ năng và quy trình để có biện pháp tháo gỡ. Việc đánh giá cần dựa trên kết quả thực tế, chẳng hạn mức độ thành thạo của cán bộ khi xử lý hồ sơ điện tử, khả năng tự thực hiện dịch vụ công của người dân, hiệu quả khai thác thiết bị và mức độ thuận tiện trong giải quyết công việc.
Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan, đơn vị, trường học và Tổ công nghệ số cộng đồng trong chia sẻ kinh nghiệm, giới thiệu mô hình hay, cách làm phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Những giải pháp có hiệu quả cần được tổng kết, hoàn thiện và nhân rộng; những cách làm chưa phù hợp cần được điều chỉnh kịp thời, tránh triển khai dàn trải, hình thức và gây lãng phí nguồn lực.
Nâng cao năng lực số cho cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân là nhiệm vụ có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị và hiệu quả phục vụ người dân tại xã Hòa Trí. Những kết quả đạt được trong thời gian qua đã tạo nền tảng quan trọng, nhưng để chuyển đổi số thực sự đi vào chiều sâu, cần tiếp tục khắc phục những hạn chế về nhân lực, hạ tầng, kỹ năng và khả năng khai thác dữ liệu. Điều quan trọng không phải là có bao nhiêu thiết bị, triển khai bao nhiêu phần mềm hay tổ chức bao nhiêu buổi tập huấn, mà là cán bộ có làm việc hiệu quả hơn hay không, thủ tục của người dân có thuận tiện hơn hay không, dữ liệu có được sử dụng tốt hơn hay không và các nền tảng số có tạo ra giá trị thiết thực cho cộng đồng hay không.
Với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền; tinh thần chủ động, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cùng sự tham gia tích cực của Nhân dân, xã Hòa Trí cần từng bước xây dựng môi trường làm việc và đời sống số an toàn, thuận tiện, hiệu quả. Qua đó, chuyển đổi số không chỉ là nhiệm vụ ứng dụng công nghệ, mà trở thành động lực đổi mới phương thức quản lý, nâng cao chất lượng phục vụ và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
CTV Lại Ái Hà, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội